ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ VIỆT CỘNG NÓI, MÀ HÃY NHÌN KỸ NHỮNG GÌ VIỆT CỘNG LÀM - DO NOT LISTEN TO WHAT VIETCONG SAY, BUT WATCH CLOSELY AT WHAT THEY'VE DONE - "...Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of "peace" could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned." RONALD REAGAN "...Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại "hòa bình" đó, là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau."

CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH


BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES - BẤM VÀO HÌNH - CLICK ON PICTURES
@@@@

Thursday, August 23, 2012

150.945 THỈNH NGUYỆN THƯ




STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAM AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS
Since 2007, the Vietnamese government has continuously waged brutal crackdown against human rights advocates, arresting and/or detaining notables such as: Rev. Nguyen Van Ly, Nobel Peace Prize nominees Ven.Thich Quang Do and Dr.Nguyen Dan Que, blogger Dieu Cay, and most recently songwriter Viet Khang, who merely expressed love for freedom and patriotism through songs he posted online. Congress has responded by introducing the Vietnam Human Rights Act, Vietnam Human Rights Sanctions Act and just last month, H Res 484. We implore you, Mr. President, to leverage Vietnam’s desire for the Trans-Pacific Partnership and Generalized System of Preferences to force the immediate and unconditional release of all detained or imprisoned human rights champions. Show the world America puts freedom first.

Created: Feb 07, 2012


OFFICIAL DEPARTMENT OF STATE RESPONSE TO
STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAM AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS
Pursuing Progress on Human Rights with Vietnam
Please see the bottom of the response for the Vietnamese translation.

By Michael Posner

I would like to thank all of you who signed this petition underscoring Americans' concern for human rights in Vietnam and the United States-Vietnam relationship. As our dialogue with Vietnam evolves, we are especially cognizant of the views of the Vietnamese community in the U.S.

The United States will remain diligent in pursuing progress on human rights in our high-level engagement as we pursue a wide array of security, economic, and strategic interests with Vietnam. In our discussions with the Vietnamese government, we emphasize that progress on human rights, including the release of political prisoners and freedom of religion, is a necessary part of improving United States-Vietnam relations. Secretary of State Clinton raised our human rights concerns with President Sang when they met at the November 2011 Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC) meeting in Honolulu, Hawaii. U.S. Ambassador to Vietnam David Shear has raised similar concerns in all of his high-level meetings since arriving in Vietnam last August, and he and the Mission regularly engage Vietnamese government officials, nongovernmental organizations, and other individuals as part of our Government's commitment to promote greater respect for human rights in Vietnam.

During the annual United States-Vietnam Human Rights Dialogue meeting in November, I, along with Ambassador-At-Large for International Religious Freedom Suzan Johnson Cook and other high-level officials, urged Vietnam to release all political prisoners, strengthen religious freedom, ratify and implement the Convention Against Torture, and take other steps to protect and promote universal human rights.

My colleague, Kurt Campbell, Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs, underscored these concerns directly with Vietnamese officials during his most recent visit to Hanoi on February 2. Read a transcript of his press conference in Hanoi here (PDF).

In addition, our engagement with Vietnam on trade, including through its interest in the Generalized System of Preferences (GSP) and its participation in the Trans-Pacific Partnership (TPP) negotiations, has provided opportunities to raise these issues. Both GSP and TPP include commitments to labor rights protections, including freedom of association.

The Obama Administration is committed to an ongoing dialogue with the Vietnamese American community. On March 5, 2012, my colleagues and I participated in a briefing held by the White House Office of Public Engagement for 165 Vietnamese Americans from 30 states who work across diaspora communities in order to promote human rights, global partnerships, and opportunities for Vietnamese abroad. During the meeting, we stressed that human rights issues are a key component of ongoing discussions with Vietnam and that the United States continuously engages Vietnam on human rights through many different channels, including the annual United States-Vietnam Human Rights Dialogue.

I encourage everyone involved in this petition to continue to express your views and concerns to the Administration, and most importantly to the Vietnamese government. I also encourage you to follow our work on http://www.humanrights.gov. (Also, see the State Department's 2010 Human Rights Report for Vietnam and the latest International Religious Freedom Report for Vietnam).

We look forward to meaningful dialogue and partnerships with your community in the future.

Michael Posner is Assistant Secretary for Democracy, Human Rights and Labor at Department of State

 


Theo đuổi tiến bộ về nhân quyền với Việt Nam

Michael Posner, Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách Nhân quyền và Lao động

Tôi xin cảm ơn tất cả quý vị đã ký thỉnh nguyện thư này, nêu bật mối quan tâm của người Mỹ đối với nhân quyền tại Việt Nam và mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Trong lúc chúng tôi tiếp tục đối thoại với Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú ý đến quan điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ sẽ vẫn kiên trì theo đuổi những tiến bộ về nhân quyền trong khi giao tiếp ở cấp cao, đồng thời theo đuổi nhiều lợi ích về an ninh, kinh tế, và chiến lược với Việt Nam. Trong các cuộc thảo luận của chúng tôi với chính phủ Việt Nam, chúng tôi nhấn mạnh rằng tiến bộ về nhân quyền, trong đó có việc thả tù chính trị và tự do tôn giáo, là một phần cần thiết để cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Clinton đã nêu lên mối quan tâm của Hoa Kỳ về nhân quyền với Chủ tịch nước Sang khi hai vị gặp nhau hồi tháng 11 năm 2011 tại hội nghị Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) họp tại Honolulu, Hawaii. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear đã nêu lên các quan tâm tương tự trong tất cả các cuộc họp cấp cao của ông kể từ khi đến Việt Nam hồi tháng 8 năm ngoái, và ông và đại sứ quán thường xuyên giao tiếp với các giới chức chính phủ Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ, và nhiều người khác, trong khuôn khổ việc thực hiện quyết tâm của chính phủ Hoa Kỳ thúc đẩy cho nhân quyền được tôn trọng nhiều hơn ở Việt Nam.

Trong cuộc Đối thoại thường niên về Nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hồi tháng 11, tôi cùng Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Suzan Johnson Cook và một số giới chức cao cấp khác, đã hối thúc Việt Nam trả tự do cho tất cả các tù chính trị, tăng cường tự do tôn giáo, phê chuẩn và thực thi Công ước Chống Tra tấn, và thực hiện các biện pháp khác để bảo vệ và thăng tiến các quyền phổ quát của con người.

Đồng nghiệp của tôi, Kurt Campbell, Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, đã trực tiếp nhấn mạnh các quan tâm này với các giới chức Việt Nam trong chuyến đi thăm gần đây nhất của ông đến Hà Nội ngày 2 tháng 2. Xin mời đọc bản ghi lại cuộc họp báo của ông ở Hà Nội tại đây (PDF).

Ngoài ra, sự giao tiếp của chúng tôi với Việt Nam về thương mại, bao gồm lợi ích của Việt Nam trong Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập (GSP) và sự tham gia của Việt Nam vào các cuộc đàm phán về hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đã cung cấp những cơ hội để nêu lên các vấn đề này. Cả hai vấn đề GSP và TPP đều bao gồm những cam kết bảo vệ người lao động, kể cả quyền tự do lập hội.

Chính quyền của Tổng thống Obama cam kết tiếp tục đối thoại với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Ngày 5 tháng 3 năm 2012, các đồng nghiệp của tôi và tôi đã tham gia một buổi thuyết trình được Văn phòng Giao tiếp với Quần chúng của Tòa Bạch Ốc tổ chức, dành cho 165 người Mỹ gốc Việt đến từ 30 tiểu bang đang làm việc trong nhiều cộng đồng người Việt khắp nơi để thúc đẩy nhân quyền, sự hợp tác toàn cầu, và cơ hội cho người Việt Nam ở nước ngoài. Trong buổi thuyết trình này, chúng tôi nhấn mạnh rằng vấn đề nhân quyền là một thành phần then chốt của các cuộc thảo luận đang tiếp diễn với Việt Nam, và rằng Hoa Kỳ tiếp tục giao tiếp với Việt Nam về nhân quyền thông qua nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có cuộc Đối thoại thường niên về Nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Tôi khuyến khích tất cả những ai tham gia vào thỉnh nguyện thư này tiếp tục bày tỏ quan điểm và quan tâm của mình với chính quyền Hoa Kỳ, và quan trọng nhất là với chính phủ Việt Nam. Tôi cũng khuyến khích quý vị theo dõi công việc của chúng tôi tại: http://www.humanrights.gov. (Ngoài ra, xin xem Báo cáo Nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về Việt Nam năm 2010 và Báo cáo mới nhất về Tự do Tôn giáo Quốc tế liên quan đến Việt Nam).

Chúng tôi mong muốn được đối thoại và hợp tác có ý nghĩa với cộng đồng của quý vị trong tương lai.

https://petitions.whitehouse.gov/petition/stop-expanding-trade-vietnam-expense-human-rights/53PQRDZH






Việt cộng THẢM SÁT DÂN LÀNG Dục Đức 1971- TÂN LẬP 1975 - BA CHÚC 1978






   

Việt cộng Thảm sát Làng Dục Đức (28- 31 Tháng 3, 1971)


1971



Làng Dục Đức nằm vị trí khoảng 20 dặm về phía tây nam Đà Nẵng, là một trong những khu vực chiến tranh nóng bỏng nhất tại Việt Nam. Các làng trong khu vực này luôn bị tấn công bởi bộ đôi chính quy Bắc Việt và Việt Cộng khủng bố.
Người dân làng Dục Đức, Phú Đa là những nông dân làm việc cần cù chăm chỉ, đời sống nhiều gia đình đang phát triển vươn lên. Hầu hết dân làng không tham gia chính trị, nhưng họ đều luôn hỗ trợ và bảo vệ những người lính Mỹ từng đến đóng quân tạm trú, sống trong ngôi làng của họ. Nhiều lần nông dân làng Dục Đức luôn có cảnh báo giúp cho những người lính Mỹ đề phòng mỗi khi Việt Cộng lẻn vào làng vào ban đêm. Tuy nhiên, họ đều luôn lo sợ những khủng bố, đe dọa của Việt cộng luôn rình rập nhắm vào ngôi làng của họ.

Vào tháng 8 năm 1970, khi những người lính Mỹ cuối cùng đã rời làng Dục Đức. Bảy tháng sau đó vào ngày 28- 31, tháng 3 năm 1971, hai trung đoàn bộ đội cộng sản đã tấn công tàn sát, giết chết 100 dân làng gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em, làm bị thương 150 người, và đốt cháy 800 ngôi nhà.












ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ VIỆT CỘNG NÓI, MÀ HÃY NHÌN KỸ NHỮNG GÌ VIỆT CỘNG LÀM - DO NOT LISTEN TO WHAT VIETCONG SAY, BUT WATCH CLOSELY AT WHAT THEY'VE DONE






1975

Việt cộng THẢM SÁT DÂN LÀNG TÂN LẬP 1975 

Việt cộng tàn sát dân làng Tân Lập
Tội Ác Cộng Sản Qua Tường Thuật Của Nhân Chứng Sống

Cán Binh CS Trần Đức Thạch
Cựu phân đội trưởng trinh sát
Tiểu đoàn 8 – Trung đoàn 266
Sư đoàn 341 – Quân đoàn 4


AUDIO PHỎNG VẤN ÔNG TRẦN ĐỨC THẠCH NGÀY 11/8/2013
  
(Hố chôn người ám ảnh  - Trần Đức Thạch)
Thời gian lặng lẽ trôi, tôi, một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói. Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.  

Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với Sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn. 
Nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.
… Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.

… Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.
Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:
- Ai bắn đấy?
- Đại đội phó Hường đấy anh ạ!
Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ nguỵ ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cân làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em Phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm.
Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:

– Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!

– Không lo, có tôi đi cùng!

Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:

– Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.

Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi lỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”
Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buốn rầu nói với tôi:



– Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

- Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.
…. Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình dung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác.
Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tủy câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhòa được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa, có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân chương do Đảng và Nhà nước trao tặng sau ngày chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này.
Sau ngày giải phóng Miền Nam 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:
– Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả lũ!.

Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là Đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập…

Trần Đức Thạch

Cựu phân đội trưởng trinh sát
Tiểu đoàn 8 – Trung đoàn 266















1978

Việt cộng THẢM SÁT DÂN LÀNG BA CHÚC 1978 - BA CHUC MASSACRE 1978
Ai là thủ phạm của vụ thảm sát tại làng Ba Chúc? Tại sao lại có vụ thảm sát đó? 
Con số nạn nhân vô tội gồm toàn phụ nữ và trẻ em tại chùa Phi Lai lên đến bao nhiêu người?
Xin quý bạn đọc theo dõi buổi nói chuyện của anh Nguyễn Văn Vàng.
 

 
Nếu thật sự có quân cộng Khmer Rouge tàn sát dân Việt từ ngày 18 tháng 04 cho đến ngày 29 tháng 04 năm 1978, thì tại sao các đơn vị của sư đoàn 330 đang đảm nhiệm việc thành lập tuyến phòng thủ và trấn đóng tại huyện Tri Tôn (làng Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn), lại không thể nghe tiếng súng, tạc đạn nổ, hay phát hiện ra biến cố trong đêm 18 tháng 04 năm 1978.?  ( Đã là có ít nhất 2.000 tiếng đạn phát nổ đã được bắn xả vào dân trong đêm tối ..!!)

Ai đã ra lệnh tập trung tất cả 3.157 thường dân giam nhốt vào trong các chùa và trường học.? Để bắn giết tàn sát hàng loạt dân làng Ba chúc?  
Điều nầy khác hẳn với phương thức giết người theo kiểu “Cáp-Duồng” của người Miên, nghiã là chúng tràn vào làng đuổi bắt, tàn sát dân Việt Nam tại chổ, gặp đâu giết đó. 
Bản Đồ Ba Chúc và Doanh trại Sư Đoàn 330  (Xem tỉ lệ khoảng cách)
Tiếng súng AK47 nỗ rất chát chúa “bắkk..bắkk..bắkk..” làm sao những bộ đội  sư đoàn 330 lại không nghe,không biết được khi những tiếng súng AK47, và tạc đạn nổ liên tục một cách ghê rợn trong đêm khuya vắng lặng. 
Có hơn trên 2.000 tiếng súng và tạc đạn nổ phát trong đêm vắng, nhưng tại sao phải đợi tới 12 ngày sau bà HTN mới được cứu sống ?


Theo tài liệu cùng với những nhân chứng địa phương, chính sư đoàn 330 hay còn gọi là sư đoàn 30 QĐNDVN đã thực hiện cuộc tàn sát nầy và CSVN đã chọn địa điểm làng Ba Chúc.


Vì nơi đây là nơi phát tích cuả giáo phái “Bửu Sơn Kỳ Hương” do đức Phật Thầy Tây An sáng lập ra và Phật Giáo Hoà Hảo là giáo phái đã được thừa truyền y bát với số tín đồ trên 7 triệu người đã trãi rộng ra khắp miền Tây Việt Nam. Với chủ đạo “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” bao gồm:
Ân Tổ Quốc. Ân Thầy. Ân Cha Mẹ. Ân Đồng Bào.
Kỳ diệu thay lại phù hợp với chủ đạo Việt tộc trong tôn giáo “Thờ Cúng Ông Bà, Tổ Tiên”. 
Nghiã là dưới bộ áo cà sa của “Bửu Sơn Kỳ Hương” lại ẩn tàng một “Gươm Thiêng Bảo Quốc”.

Đây là lý do tại sao cả Trung cộng lẫnViệt cộng tìm cách tiêu diệt giáo phái Phật Giáo Hoà Hảo nầy cho bằng được, kể từ 1939 cho đến ngày hôm nay.

Hành trình Đạo Cao Đài từ 1975
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-CaoDai-itinerary-from-1975-part1-TGiao-06182008160318.html/vtgiao061808.mp3/inline.html
Đúng là sự huyền nhiệm của vùng “Địa Linh Nhân Kiệt Thất Sơn” đã khiến cho bà HTN sống còn để trỡ thành nhân chứng sống.

http://suutamlichsu.blogspot.com/2007/02/su-ap-ba-chuc-bvn-2.html
* Tài liệu trích từ James Pringle International Herald Tribune.
http://www.iht.com/bin/print_ipub.php?file=/articles/2004/01/07/edpringle_ed3_.php

Trong phần tài liệu cuả James Pringgle nấy có những dữ kiện sau đây đã tạo thành nghi vấn:

-Có 2 người con gái rất đẹp“Chinese beauties, từ ngữ cuả James Pringle” đi cùng với toán quân Khmer Rouge nhưng lại không nói được tiếng Việt lẫn tiếng Khmer Rouge. Điều chắc chắn là 2 người con gái nầy không xuất xứ từ Miên vì Pol Pot đã tàn sát hấu hết những người dân trong vùng.

-Tất cả nạn nhân đều bị bắn chết trong chùa và trường học, riêng bà H.T.N. lại bị bọn Khmer Rouge mang cả gia đình đi về phiá biên giới Việt-Miên rồi mới giết.

-Người con gái của bà HTN bị đập vào đầu 3 lần bằng báng súng (James Pringle dùng từ ngữ “struck”) cho thấy sự tàn nhẫn cuả toán người nầy.

Điều nầy khác với phương thức giết người theo kiểu “Cáp-Duồng” của người Miên, nghiã là tàn sát dân Việt Nam tại chổ, gặp đâu giết đó.

Tuy nhiên bà H.T.N may mắn vẫn còn sống và được quân CSVN cứu sau 12 ngày đêm bị thương! (Trích từ tài liệu cuả ông Nguyễn Vỉnh Long Hồ)

Nếu thật sự có quân Khmer Rouge tàn sát dân Việt từ ngày 18 tháng 04 cho đến ngày 29 tháng 04 năm 1978, thì tại sao các đơn vị của sư đoàn 330 đang đảm nhiệm việc thành lập tuyến phòng thủ và trấn đóng tại huyện Tri Tôn (làng Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn), lại không phát hiện ra biến cố trong đêm 18 tháng 04 năm 1978, vì có tất cả là 3.157 thường dân bị bắn chết trong các chùa và trường học.

Nghiã là có ít nhất 2.000 phát đạn đã được bắn vào dân!.

Tiếng súng AK47 nỗ rất chát chúa “bắkk..bắkk..bắkk..” (vũ khí Khmer Rouge được viện trợ từ TC) những cựu quân nhân trong QLVNCH không thể nào quên được những âm thanh đó thì làm sao những cán binh CSVN lại không biết được khi những tiếng súng AK47 nỗ một cách ghê rợn trong đêm trường vắng lặng.
Có tiếng súng nỗ trên 2.000 phát trong đêm mà phải đợi tới 12 ngày sau bà HTN mới được cứu sống thì quả thật mạng bà HTN quá lớn!!!.

Việt cộng ném đá dấu tay.

Vết máu nạn nhân văng bắn trên tường.

Việt cộng ném đá dấu tay và tuyên truyền.




Trong lịch sử cuộc chiến Việt – Trung cận đại người dân Việt Nam chỉ có thể nhớ ngày 17 tháng 02 năm 1979 Trung Cộng đã xua quân tràn sang biên giới phía bắc Việt Nam tấn công và tràn ngập 6 tỉnh : Lai Châu, Lào Cai, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. 
Tuy nhiên ít có ai nhớ rõ nguyên nhân tại sao và nguồn gốc từ đâu đã phát xuất ra cuộc chiến nầy.

Bài viết nầy được viết lại nhằm mục đích nêu ra những dữ kiện mà những tài liệu trước của Giáo Sư Lâm Lễ Trinh, ông Nguyễn Vĩnh Long Hồ, ông Hoàng Quý và ông James Pringle đã không đề cập tới trong những bài viết sau đây: 

- “Tài Liệu Giải Mật Về Cuộc Chiến Hoa Việt 1979.” GS Lâm Lễ Trinh. 

- “Mở Lại Hồ Sơ CSVN Thảm Sát Đồng Bào Làng BA CHÚC, Tỉnh Anh Giang Đêm 18-04-1978.” ông Nguyễn Vĩnh Long Hồ. 

http://lichsuviet.cjb.net/view_article.asp?id=687&cat=19 

Qua bài viết nầy chúng tôi cố gắng giải đáp một nghi vấn là: 

Ai đã giết chết 3.157 mạng người dân làng Ba Chúc vô tội?


1) Miên cộng (Khmer Rouge) Polpot đã ra tay tàn sát dân lành ? 
Hay: 
2) Tình báo cục Đông Dương của Trung Cộng điều hành cuộc tàn sát đã nói qua bàn tay của bộ chính trị CSVN, những quan thái thú TC hiện đang ngự trị trên đầu dân chúng Việt Nam thừa lệnh thiên triều TC để thi hành việc dâng đất, dâng biển Việt Nam cho TC? Qua các cơ quan có tên là TC2, T4 ?

Mọi người ai cũng hiểu là CSVN đã chịu rất nhiều áp lực từ phía TC vì thế nên phải lép vế đi theo chỉ đạo của TC, tuy nhiên cho đến nay không ai trong đất nước Việt Nam có một thái độ khẳng định dứt khoát là bộ chính trị CSVN chính là một hệ thống thái thú hiện đại của TC đặt tại Việt Nam, từ bộ chính trị xuống tới làng xã . 

Đây là “mấu chốt vấn đề” cho cả một dân tộc thế mà không một ai trong đất nước Việt Nam dám nhìn nhận cái sự thật nầy. 

Trong bài viết của giáo sư Lâm Lễ Trinh về trận chiến Hoa Việt cho thấy nguyên nhân của cuộc chiến là do sự tranh dành ảnh hưởng của hai phe thân Nga cộng và Tàu cộng . Rất đúng. Điều nhận xét của giáo sư Lâm Lễ Trinh và nhận xét của cả công luận báo chí trên thế giới rất đúng. 

Tuy nhiên có một vấn đề mà cho đến nay chưa một ai hay những tác giả của những bài báo nêu lên hay đào sâu vào, đó là vấn đề :

Trong lịch sử cuộc chiến Việt – Trung cận đại người dân Việt Nam chỉ có thể nhớ ngày 17 tháng 02 năm 1979 Trung Cộng đã xua quân tràn sang biên giới phía bắc Việt Nam tấn công và tràn ngập 6 tỉnh : Lai Châu, Lào Cai, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. 
Tuy nhiên ít có ai nhớ rõ nguyên nhân tại sao và nguồn gốc từ đâu đã phát xuất ra cuộc chiến nầy.


Bài viết nầy được viết lại nhằm mục đích nêu ra những dữ kiện mà những tài liệu trước của Giáo Sư Lâm Lễ Trinh, ông Nguyễn Vĩnh Long Hồ, ông Hoàng Quý và ông James Pringle đã không đề cập tới trong những bài viết sau đây: 

- “Tài Liệu Giải Mật Về Cuộc Chiến Hoa Việt 1979.” GS Lâm Lễ Trinh. 

- “Mở Lại Hồ Sơ CSVN Thảm Sát Đồng Bào Làng BA CHÚC, Tỉnh Anh Giang Đêm 18-04-1978.” ông Nguyễn Vĩnh Long Hồ. 

http://lichsuviet.cjb.net/view_article.asp?id=687&cat=19 

Qua bài viết nầy chúng tôi cố gắng giải đáp một nghi vấn là: 

Ai đã giết chết 3.157 mạng người dân làng Ba Chúc vô tội?


1) Miên cộng (Khmer Rouge) Polpot đã ra tay tàn sát dân lành ? 
Hay: 
2) Tình báo cục Đông Dương của Trung Cộng điều hành cuộc tàn sát đã nói qua bàn tay của bộ chính trị CSVN, những quan thái thú TC hiện đang ngự trị trên đầu dân chúng Việt Nam thừa lệnh thiên triều TC để thi hành việc dâng đất, dâng biển Việt Nam cho TC? Qua các cơ quan có tên là TC2, T4 ??? 
Mọi người ai cũng hiểu là CSVN đã chịu rất nhiều áp lực từ phía TC vì thế nên phải lép vế đi theo chỉ đạo của TC, tuy nhiên cho đến nay không ai trong đất nước Việt Nam có một thái độ khẳng định dứt khoát là bộ chính trị CSVN chính là một hệ thống thái thú hiện đại của TC đặt tại Việt Nam, từ bộ chính trị xuống tới làng xã . 

Đây là “mấu chốt vấn đề” cho cả một dân tộc thế mà không một ai trong đất nước Việt Nam dám nhìn nhận cái sự thật nầy. 

Trong bài viết của giáo sư Lâm Lễ Trinh về trận chiến Hoa Việt cho thấy nguyên nhân của cuộc chiến là do sự tranh dành ảnh hưởng của hai phe thân Nga cộng và Tàu cộng . Rất đúng. Điều nhận xét của giáo sư Lâm Lễ Trinh và nhận xét của cả công luận báo chí trên thế giới rất đúng. 

Tuy nhiên có một vấn đề mà cho đến nay chưa một ai hay những tác giả của những bài báo nêu lên hay đào sâu vào, đó là vấn đề :

“Tình báo chiến lược Đông Dương của Trung cộng” 

Liệu phe CSVN thân Nga có thật sự theo Nga cộng hay không ? hay chỉ là trá hình theo Nga để thu nhận tin tức tình báo cùng những tài liệu kỷ thuật của Nga rồi chuyển về cho TC để TC có thể hiện đại hóa quân sự và tiến hành mộng bành trướng của TC? 

Trong quyển sách “Một Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Đặng Mỹ Dung đã cho chúng ta thấy rõ điều nầy là tình báo CSVN chỉ hoạt động có lợi cho Trung Cộng mà thôi. 

Dưới đây là những dữ kiện của cuộc thãm sát 3.157 thường dân Việt Nam và Khờ-Me (Khmer). 

* Tài liệu của ông Nguyễn Vĩnh Long Hồ. 

- Nhà Mồ Ba Chúc được xây dựng giữa chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu được nhà nước CSVN công nhận là “Di Tích Căm Thù” vào năm 1980 để đánh dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Polpot từ ngày 18/04/1978 cho đến ngày 29/04/1978. (Theo tài liệu của CSVN thì Khmer đỏ đã tràn sang biên giới tàn sát dân lành VN từ 18/04/1978 cho đến 29/04/1978.) 

- Ngày 18 tháng 04 năm 1978 CSVN đã tàn sát 3.157 mạng người trong các ngôi chùa, trường học tại làng Ba Chúc các biên giới Việt-Miên khoảng 7 km.

-Theo tiết lộ cuả Hoàng Tùng, uỷ viên bộ chính trị CSVN, bộ chính trị CSVN đã có ý đồ chiếm Cambodge từ năm 1970-1972. (Đây có lẽ là thời điểm mà 2 phe thân CSVN và thân TC đã được thành hình)

-Phe thân Nga gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dủng, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười….

-Phe thân TC gồm: Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng…

-Tháng 09 năm 1975 Sihanouk và Khiêu Samphan, chủ tịch nước Khmer Rouge đến Hà Nội dự lễ quốc khánh cuả CSVN. 

Ngày 23 /4/ 2008. Khieu Samphan trước Tòa án Quốc tế với Tội danh Diệt chủng

Ieng Sary trước Tòa án Quốc Tế Ngày 30/6/2008

Tòa án Quốc Tế 



-Tháng 03 năm 1977 leng Sary, ngoại trưởng Khmer Rouge sang Bắc Kinh. Trong buổi tiếp tân có phó thủ tướng TC Lý Tiên Niệm, tổng tham mưu phó QĐTC Vương Thăng Long.

-Tháng 04 năm 1977, trong buổi tiếp tân tại Toà Đại sứ Cambodge, ngoại trưởng TC Hoàng Hoa công khai tuyên bố: “nước Cambodge đang bị kẻ thù phá hoại và Trung Hoa sẽ sát cánh với những dân tộc nhỏ yếu chống lại những hành động can thiệp và gây hấn cuả các lân bang”. (Lời tuyên bố nầy đã khơi màu cho cuộc chiến Việt-Trung 1979-1991) 

Cambodge tấn công vào những làng, xã và những thị trấn dọc biên giới thuộc tỉnh An Giang, Châu Đốc hai tuần sau, ngay vào ngày CSVN đang ăn mừng “Mùa Xuân đại thắng 1975” (30-04-1977?).


-Ngày 27 tháng 09 năm 1977 Pol Pot tuyên bố vai trò chủ tịch đảng lãnh đạo tổ chức Angka là đảng cộng sản Cambodge. Một ngày sau Pol Pot lên đường đi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng với tư cách là chủ tịch đảng. Ba ngày trước (24-09-1977?) chuyến đi, Pol Pot đã ra lệnh cho quân đội Quân Khu Đông tấn công vào Tây Ninh.
POL POT chết ngày 15 tháng 4/1998. 


Trần Văn Trà

 CSVN không cho quân đội phản công. Cách chức tướng tư lệnh “quá khích” Trần Văn Trà!. (Thay Lê Đức Anh vào để thi hành kế hoạch cuả tình báo Trung cộng là giử quân CSVN, 10-15 sư đoàn tại Cambodge, để Trung cộng rãnh tay tiến chiếm miền Bắc Việt Nam). (Nhân vật Lê Đức Anh là mấu chốt, xuất xứ cuả cuộc chiến Việt-Trung 1979-1991, cũng để tạo nên những nghi kỵ giửa Việt Nam và Cambodge qua vụ giết oan những cán bộ cuả Cambodge, phe thân VN do TC2 điều khiển.).
 Lê Đức Anh

-Phan Hiền bí mật sang Bắc Kinh nhờ TC dàn xếp. Không thành công. 
TC nhất quyết ủng hộ Cambodge và chở vũ khí, chiến cụ ồ ạt tới cảng KomphongSom. 

-Cuối năm 1977, quân đội CSVN tấn công thăm dò vào sâu trong lãnh thổ Cambodge, bị quốc tế lên án nên buộc phải rút quân về ngày 06 tháng 01 năm 1978. 

-Đầu tháng giêng năm 1978, sư đoàn 2 và sư đoàn 210 của quân khu tây nam Cambodge đã tấn công và chiếm đóng các xã Phú Cường, Khánh An, Khánh Bình, các huyện Hồng Ngự, Hà Tiên thuộc lãnh thổ quân khu 9 Việt Nam. 
-Tướng Trần Nghiêm, tư lệnh phó cuả Lê Đức Anh, được đề bạt làm tư lệnh quân khu 9 điều động các sư đoàn 4, 8, 330 cùng với 2 trung đoàn cơ động cuả hai tỉnh Hậu Giang và Đồng Tháp. 

Sư đoàn 341, tư lệnh Vũ Cao, được điều từ quân khu 7 đến tăng phái cho quân khu 9. 
Với sự yểm trợ của không quân, pháo binh, thiết giáp và với quân số áp đảo 4 sư đoàn: 4, 8, 330 341 cùng 2 trung đoàn cơ động để phản công mà mải tới 2 tháng sau CSVN mới có thể đánh bật sư đoàn 2 và sư đoàn 210 của Cambodge ra khỏi lãnh thổ Việt Nam!. 

-Sư đoàn 330 CSVN (chính sư đoàn nầy là thủ phạm tàn sát 3.157 người dân ấp Ba Chúc) trấn đóng huyện Tri Tôn để tạo thành tuyến phòng thủ tại đây.
-Cuộc thanh trừng nội bộ thuộc Quân Khu Đông Cambodge đã xãy ra từ tháng 03 năm 1978 cho tới ngày 24 tháng 05 năm 1978 khiến cho sư đoàn 4 cuả Cambodge bị xoá sổ, 
những sư đoàn 3, 5, 280 suy yếu dần.
Ngày 18 tháng 04 năm 1978 xãy ra cuộc tàn sát đẩm máu của 3.157 nhân mạng thường dân vô tội, trong đó bao gồm cả dân chúng Việt lẫn Miên trong các ngôi chùa và trường học thuộc làng Ba Chúc. 
Cuộc tàn sát đã xảy ra trong khi Quân Khu Đông Cambodge có biến động thanh trừng lẫn nhau, có lẽ giửa hai phe thân Trung Cộng và thân CSVN.!! 
Đây quả thật là một sự trùng hợp kỳ cục , !!???

Chuyện bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Khi Lê Đức Anh xuất hiện nhiều trên Chính trường, có một người tên là Hồng đã nhận ra Lê Đức Anh chính là "Viên Cai Anh" ở đồn điền cao su Phú Riềng khét tiếng tàn ác, đã đánh ông mà trên lưng vẫn còn vết sẹo hằn sâu đến bây giờ. Ông đã viết đơn và trực tiếp mang đến Ban tổ chức Trung ương, tố cáo "Lê Đức Anh là cai phu đồn điền, không phải là đảng viên, nhưng đã chui vào Đảng..." ! UB KTTW đã đi điều tra xác minh. Kết quả : Đ/c bí thư chi bộ ở địa phương hồi đó đã khẳng định: "Từ 1938 đến 1945, chi bộ không kết nạp ai và trong chi bộ không có ai tên là Lê Đức Anh" !

Hay đây là một cuộc đấu trí, đấu sức giữa tình báo TC và tình báo CSVN mà Lê Đức Anh làm đạo diễn (dưới bàn tay TC2, T4) qua những vụ án Xiêm Rệp (1983), vụ án Sáu Sứ (1991).

Tài liệu TC2

Bằng cách giam khoảng 10-15 sư đoàn quân CSVN tại Cambodge, để cho quân TC có dịp tràn sang biên giới phiá Bắc Việt Nam ngày 17 tháng 02 năm 1979 và khởi chiến (cuộc chiến diệt chủng) với 2 quân đoàn Quảng Tây, Vân Nam và sau đó là 7 quân đoàn còn lại cuả TC, thay phiên nhau tấn chiếm suốt dọc chiều dài vùng biên giới phía bắc Việt Nam từ 1979-1991, để rồi bộ chính trị CSVN nhượng lần đất và biển cho TC?!.


-Ngày 15 tháng 06 năm 1978, các sư đoàn 7, 9, 341 cùng các đơn vị yễm trợ đã tràn sang Cambodge và chỉ rút quân về vào cuối năm 1989 (tháng 09/1989, tài liệu “Hồi Ký Trần Quang Cơ”.) 

-Ngày 17 tháng 02 năm 1979 chiến tranh Việt – Trung khởi đầu và chỉ chấm dứt sau năm 1991, dẫn đến việc mất những vùng đất biên giới phiá bắc Việt Nam và những vùng biển từ Bắc Bộ kéo dài xuống Trường Sa. 

* Tài liệu trích từ “Hồi Ký Trần Quang Cơ”. 1975-1991

“Án Sử Cuộc Chiến Việt – Trung” không thể kết thúc tại đây vì nó quan trọng cho cả dân tộc Bách Việt, mong rằng các bậc thức giả Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhau đi tìm những đáp án cho dân tộc.

http://suutamlichsu.blogspot.com/2007/02/su-ap-ba-chuc-bvn.html 


http://suutamlichsu.blogspot.com/2007/02/su-ap-ba-chuc-bvn-2.html



Chú thích: CSVN đã biết rõ TC sẽ tấn công VN thế nhưng CSVN vẫn giam chết những đơn vị thiện chiến tại chiến trường Cambodge, để cho tiêu hao binh lực, và chỉ phản công khi quân TC đã tràn sang biên giới, để cho TC tiến hành cuộc chiến “genocide” nghiã là “diệt chủng” dân Việt Nam. Mặt trận Lạng Sơn-Cao Bằng, mặt trận Hà Giang, Vị Xuyên với 3.700 tử sỉ đã bị bộ chính trị CSVN bán đứng, Mặt trận Lào Cai-Lai Châu là những bằng chứng cụ thể cho thấy bộ chính trị CSVN đã bán đứng đất nước, bán đứng dân tộc Việt Nam. 



Ngày 29.8.90, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp TBT Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của TBT Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 3.9.90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp anh Tô. Trung Quốc còn lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được vì khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô. 

Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói không chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề bình thường hoá quan hệ. Năm ngày trước – ngày 24.8.90 - Trung Quốc còn bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ý cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ. 

Thái độ “thiện chí” gấp gáp như vậy của Bắc Kinh không phải tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức bách. 

Chú thích: Trong giai đoạn nầy, năm 1990, chiến trận Việt-Trung sắp sửa kết thúc. TC đã chiếm khá nhiều đất cuả Việt Nam và đã buộc CSVN phải chấp nhận lập lại cột mốc biên giới mới. Cũng xin nói rõ là cho đến năm nầy 1990 TC vẫn chưa tháo gở bài mìn dọc theo biên giới Việt-Trung. TC đã không thực hiện đúng như lời tuyên bố với thế giới là gở mìn hoàn toàn, mà chỉ “seal” rào kín khu vực rồi để đó, nghiã là chỉ để bản “Khu Vực Mìn Bẩy Cấm Vào”. Để sau nầy bắt CSVN phải chấp nhận khu vực mìn bẩy nầy là lãnh thổ của TC. Cuộc họp cấp cao tại Thành Đô chỉ với mục đích đó mà thôi.



Từ 17 đến 27.6.91 Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội lần thứ VII đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm TBT; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, Uỷ viên thường trực BCT kiêm bí thư trung ương phụ trách cả 3 khối quốc phòng – an ninh – ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước. Võ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức uỷ viên Trung ương. Còn Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao... (thực ra những thay đổi về nhân sự trong BCT đã được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đã biết).

Nguyễn Cơ Thạch

Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.
Chú thích: Đây là lúc quê hương đang bước vào giai đoạn nguy kịch vì Lê Đức Anh đã, đang và sẽ lũng đoạn đất nước theo chiều hướng dẩn cuả Trung cộng. Kết cuộc là những phần đất và biển đã lọt vào tay Trung cộng một cách êm thấm 

Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của TBT Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: Ngày 5.8.91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’. Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. Hôm sau, Hồng Hà với tư cách Trưởng ban Đối ngoại tiếp Đại sứ Campuchia Ouch Borith, đã thông báo: “Theo sự phân công của BCT Việt Nam, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà sẽ phụ trách việc thảo luận giải pháp Campuchia và các vấn đề liên quan. Nếu lãnh đạo Campuchia muốn bàn các vấn đề trên thì đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó. 

Ngày 9.7.91, vừa được bầu làm TBT, Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước. Trước đó ít ngày–ngày 11.6.91 – Bộ Ngoại Giao ta cũng đã gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao hai nước. Ngày 17.7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5.8 đến 10.8. Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử đặc phái viên gặp lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp đặc phái viên Đảng trước cuộc gặp thứ trưởng ngoại giao… Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thoả thuận với cấp đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp thứ trưởng ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đã đề nghị thay chữ “đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hồng Hà lúc đó là bí thư TƯ, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại giao có đề nghị có một thứ trưởng ngoại giao là uỷ viên TƯ đi với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.

Thời điểm nầy Lê Đức Anh phe đảng và tình báo Trung cộng đã hoàn toàn thống trị đảng CSVN cho đến ngày hôm nay.